Chào mừng quý vị đến với website của Trường THPT Tân Đông

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Tây Ninh dấu yêu > Văn hóa >

DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HOÁ.


I. DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA

Thị xã Tây Ninh hiện có 13 di tích lịch sử và kiến trúc cổ. Trong đó 03 di tích cấp Quốc gia và 10 di tích cấp Tỉnh đã được công nhận như sau:

1. Các di tích được công nhận cấp Quốc gia:
images
1- Núi Bà Đen - Ninh Sơn, thị xã Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 100/VH-QĐ ngày 21/1/1989 của Bộ Văn hóa-Thông tin
hiep_ninh_1
2- Đình Hiệp Ninh - khu phố 4, phường 2, thị xã Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 1430/QĐ-BT ngày 12/10/1993 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin
20343350_500
3- Đình Thái Bình - khu phố 4, phường 1, thị xã Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 3211/QĐ-BT ngày 12/12/1994 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa-Thông tin
2. Các di tích được công nhận cấp Tỉnh:
1- Cơ sở Tỉnh uỷ Tây Ninh - khu phố 4, phường 2, thị xã Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 139/QĐ-CT ngày 27/9/1999 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh.- khu phố 1, phường 2, thị xã Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 142/QĐ-CT ngày 27/9/1999 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh
3- Đền thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo - khu phố 3, phường 3, thị xã Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 267/QĐ-CT ngày 27/12/2001 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh

4- Khu chứng tích cầu Quan - khu phố 2, phường 2, thị xã Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 268/QĐ-CT ngày 27/12/2001 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh 5- Miếu Quan thánh Đế Quân - khu phố 4, phường 2, thị xã Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 271/QĐ-CT ngày 27/12/2001 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh 6- Chùa Khơme-Khedon: Khedon, xã Thạnh Tân, thị xã Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 117/QĐ-CT ngày 29/4/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh 7- Thiên Hậu Miếu - Khu phố 4, phường 2, thị xã Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 125/QĐ-CT ngày 29/4/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh 8- Khám đường Tây Ninh (Trại giam) - Khu phố 3, phường 2, thị xã Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 126/QĐ-CT ngày 29/4/2002 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh 9- Chùa Phước Lâm - Khu phố 2, phường 1, thị xã Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 245/QĐ-CT ngày 22/11/2005 của UBND tỉnh Tây Ninh 10- Căn cứ Biệt động thị xã Tây Ninh - Ấp Giồng Cà, xã Bình Minh, thị xã Tây Ninh được công nhận theo Quyết định số 60/QĐ-CT ngày 23/02/2007 của UBND tỉnh Tây Ninh
Trong phạm vi này chỉ giới thiệu một số di tích tiêu biểu: 3. Đền thờ Trần Hưng Đạo: Khu phố 3, phường 3
* Về Nguồn gốc

Nguồn gốc của ngôi đền xuất phát từ bộ phận người Việt Nam sinh sống ở huyện Mimốt, Kômpông Chàm, Camphuchia. Mặc dù sống trên đất khách, quê người nhưng cộng đồng người Việt tại đây luôn hướng về cội nguồn dân tộc. Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, cộng đồng người Việt ở đây đã lập nên ngôi đền thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo-vị anh hùng dân tộc, đã thu hút khá đông người Việt ở Mimốt đến cầu an, làm ăn thịnh vượng. Những tập tục và lễ hội dân tộc được bảo lưu gìn giữ rất tốt.
Đến năm 1970, Lon Non-Xirich Matắc được hỗ trợ của đế quốc Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn đã âm mưu đảo chính lật đổ quốc vương Sihanúc. Cuộc chiến tranh Đông dương bùng nổ, một bộ phận lớn cộng đồng người Việt ở Campuchia bị trục xuất về nước. Trong số đó, có bộ phận người Việt ở Mimốt chuyển về Tây Ninh định cư sinh sống.
Số người này cùng nhân dân vùng thị xã Tây Ninh xây dựng nên ngôi đền đức Thánh Trần phỏng theo kiểu nhà ở Bắc bộ (giống như đền thờ Trần Hưng Đạo ở Mimốt), cùng với sắc phong và tượng đức Thánh Trần để thờ cúng.
* Về Kiến Trúc:

Ngôi đền được xây dựng có 5 gian, cột gỗ tròn, xây tường gạch 3 phía, phía trước cửa gỗ, mái lợp ngói. Ở gian chính giữa trưng bày bức đại tự, hai đôi liễn (câu đối). Trung tâm thờ tượng Trần Hưng Đạo, một gian thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ngày 14 tháng 8 năm 1941(âm lịch) vua Bảo Đại (năm thứ 14) đã sắc phong:
"Vâng mệnh tưởng nhớ vị thần phò dân giúp nước Trần Hưng Đạo. Xin thần linh ứng giúp dân sở tại vun trồng tại xứ Mimốt Cao Miên - nay vua ban chiếu mệnh thứ dân lập đền thờ lớn. Mong thần phù hộ, bảo vệ là dân của nước ta.
Sắc ban tuyệt đối tuân lệnh".
Ngôi đền được nhân dân địa phương thường xuyên bảo vệ và tu sửa. Đây là ngôi đền thờ Trần Hưng Đạo duy nhất ở tỉnh Tây Ninh.
4. Miếu Quan Đế (chùa Ông Phước Kiến): khu phố 4, phường 2
* Về Nguồn gốc:

Người Hoa Phước Kiến (Quảng Đông, Trung Quốc) trong quá trình lưu tán di chuyển qua nhiều địa điểm ở đàng trong và cùng người Việt tụ cư ở thị xã Tây Ninh vào khoảng cuốI thế kỷ XVIII.
Cùng với những phong tục của người Hoa được bảo lưu- Người Hoa Tây Ninh lập thờ Quan Đế mà người Việt thường gọi là chùa Ông.
Quan Công là một nhân vật trong thời Tam Quốc (Ngô, Ngụy, Thục) ở Trung Quốc và được xem là người "VẠN CỔ NHẤT NHÂN" tượng trưng cho "ĐỨC-TRÍ-DŨNG" và được người Hoa tôn sùng lập miếu thờ nhiều nơi.
* Về Kiến trúc:

Miếu Quan Đế thị xã Tây Ninh xây dựng theo kiến trúc cổ, truyền thống Trung Hoa. Toàn bộ công trình kiến trúc khép kín theo hình chữ Quốc, dài 23m, rộng 20m (chu vi 86m). Mặt cắt dọc hình chữ nhị. Ở giữa có sân nắng (giếng trời- theo quan niệm của người Hoa). Cột gỗ tròn, vách gạch, mái lợp ngói âm dương và ngói mũi hài sơn màu vàng, đỏ.
Chính giữa miếu thờ tượng Quan Công 0,5m, theo tư thế một tay vuốt râu, một tay cầm quyển sách -Hai bên tả, hữu thờ tượng Châu Xương và Quan Bình. Hai gian bên thờ mẹ sinh, mẹ Độ và thần tài.
Gian chính được bài trí trang nghiêm và lộng lẫy bởi các đồ tự, bát bửu, lư hương và các mảng chạm khắc đều có tuổi trên 100năm.
Sân vườn trước miếu rộng, có hồ bán nguyệt, trồng sen và nhiều cây cảnh quý hiếm.
Hằng năm vào ngày rằm tháng giêng và ngày 26 tháng 4 âm lịch tổ chức cúng lễ. Đông đảo cộng đồng người Hoa ở Tây Ninh đến cúng bái.
5. Đình Hiệp Ninh: Khu phố 4, phường 2
* Về Nguồn gốc:

Tiền thân ngôi đình được nhân dân "THÁI BÌNH THÔN" xây cất trong thời kỳ thuộc huyện Tân Ninh, thờ những ngườI có công khai phá vùng đất Tân Ninh xưa. Đây là vùng đất mà năm Minh Mạng thứ V đặt tên thêm phủ Tây Ninh, lãnh 2 huyện Tân Ninh và Quang Hóa. Đó là 2 Trung tâm chính trị đặt lỵ sở tại thị xã Tây Ninh và Cẩm Giang ngày nay. Vùng đất này ghi nhận lịch sử thời kỳ mở đất thứ ba trên địa hạt Tây Ninh (An Tịnh; khu vực Cẩm Giang, Long Thành và khu vực thị xã). Ngôi đình hiện nay được tu sửa vào năm 1901. Vua Khải Định sắc phong Thành hoàng bổn cảnh cho đình vào ngày 18 tháng 3 năm 1917. Liên tiếp trong các năm 1923, 1926, 1927 và 1928 đình được trùng tu sửa chữa nhỏ. Đến năm 1943 được xây thêm cổng chính.
* Về Kiến trúc:

Kiến trúc đình vẫn theo hình chữ tam, gồm tiền đình, hậu đình và nhà khách. Phần chính diện có 5 gian, có gác chuông, gác trống. Tường vách 2 bên xây cao chạy dài suốt 50m. Kiến trúc nội thất gồm có 16 cây cột gỗ tròn, đường kính 30cm và 8 cây cột gạch ốp sát tường, cùng với hệ thống vì kèo, khung xuyên, đòn tay… đỡ mái ngói âm dương tạo nên một không gian nội thất rộng rãi vững chắc.
Kiến trúc nội thất kết hợp với trưng bày, bài trí đồ thờ tự như hoành phi, câu đối, bài vị, khảm thờ…toát lên sự cung kính, biết ơn những vị thần được thờ.
Đình Hiệp Ninh là một trong những nơi còn lưu giữ được nhiều hiện vật, đồ thờ tự quí giá, có giá trị về nghệ thuật và tư tưởng cao như: hàng chục hoành phi đại tự, khảm thờ Thành hoàng bổn cảnh, nghi thờ Thành hoàng bổn xứ, trang thờ đương kim thiên tử, thiên vị, kiệu thỉnh sắc, các hàng tự khí, bát bửu, phủ việc; các ban thờ tả, hữu ban, các vị cận vệ thần, tiền hiền, hậu hiền và các bô lão có công xây dựng làng xã, cùng 15 bộ câu đối (liễn), chiêng, trống, bộ rùa, đôi hạc. Đặc biệt có sắc phong và mão thần của vua Khải Định ban ngày 18 tháng 3 năm 1917.
Những đồ thờ tự này làm bằng loại gỗ quí hiếm, được chạm khắc tinh xảo như: cây cảnh, long, ly, quy, phụng với nhiều họa tiết trang trí sơn son thếp vàng hết sức lộng lẫy.
Trong Cách mạng tháng tám năm 1945, đình Hiệp Ninh đã từng là nơi tập trung luyện tập chuẩn bị cướp chính quyền tỉnh Tây Ninh của lực lượng Thanh niên tiền phong. Trong những năm 1957-1959 nơi đây là điểm liên lạc hoạt động bí mật của Tỉnh ủy và Thị xã ủy Tây Ninh.
Ngày 12 tháng 10 năm 1993, tại quyết số 1340/QĐ-BT của Bộ Văn hóa Thông tin đã công nhận xếp hạng đình Hiệp Ninh là Di tích lịch sử-văn hóa.
II. LỄ HỘI

Trãi qua nhiều thế kỷ, cư dân thị xã Tây Ninh có một số thay đổi về số lượng cũng như phân bố dân cư. Hiện nay trên thị xã Tây Ninh có 5 dân tộc sinh sống đó là dân tộc kinh, Khơ me,Chăm, Hoa và một số dân tộc Tà Mun sống rãi rác trên địa bàn thị xã.
Mỗi dân tộc đều giữ gìn được bản sắc văn hóa truyền thống của nhiều dân tộc mình, đồng thời trong quá trình giao lưu, hòa nhập văn hóa, tín ngưỡng còn có những sắc thái tương đối đồng nhất giữa các dân tộc, mang tính riêng của địa phương.
Sau đây là một số lễ hội được tổ chức hàng năm:
1. Vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu

Là lễ hội dân gian. Thờ Bà Linh Sơn Thánh Mẫu (Bà Đen).
Lễ thức: Cầu nguyện, tế và tắm Bà. Tổ chức các trò chơi dân gian tại khu du lịch và diễn xướng dân gian múa mâm vàng vào ngày mùng 8 tháng giêng (âm lịch) hằng năm.
2. Lễ hội chùa Ông: khu phố 4, phường 2
Là lễ hội dân gian. Thờ Quan thánh Đế Ông.
Lễ thức: Cúng tế
Hằng năm vào ngày rằm tháng giêng và ngày 26 tháng 4 âm lịch tổ chức cúng lễ. Đông đảo cộng đồng người Hoa ở Tây Ninh đến cúng bái.
3. Lễ hội Ramanđa:

Là lễ hội dân gian của người Chăm Islam. Thờ Thánh Ala, thần Mặt trời.
Lễ thức: Đọc kinh cầu nguyện ở Thánh đường, thắp nến tiển ông bà, lễ kết thúc tháng chay.
Hằng năm vào ngày mùng 3 tháng 2 (âm lịch) tổ chức hội mời lối xóm sang nhà chuyện trò.

Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Viết Xuân @ 01:40 30/04/2013
Số lượt xem: 223
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến