Chào mừng quý vị đến với website của Trường THPT Tân Đông

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Chuyện làng giáo > Nghiên cứu khoa học > Sưu tầm >

Một số đề tài NCKHSPUD mẫu

ĐỀ TÀI.  Tác động của việc học sinh THCS hỗ trợ lẫn nhau trong lớp học đối với hành vi thực hiện nhiệm vụ môn Toán

Nhóm nghiên cứu: Koh Puay Koon, Lee Li Li, Siti Nawal, Tan Candy & Tan Jing Yang

Trường THCS Dunman

 

Tóm tắt

Nhiều GV đã chia sẻ lo ngại về thái độ học tập thiếu tích cực của HS. HS thường không tự giác mà chỉ thực hiện nhiệm vụ khi có sự giám sát chặt chẽ của GV.

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng việc HS hỗ trợ lẫn nhau là một cách làm hiệu quả giúp HS tự giác, tích cực tham gia và thực hiện nhiệm vụ. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu tác động của việc HS THCS hỗ trợ lẫn nhau trong lớp học đối với hành vi thực hiện nhiệm vụ môn Toán.

Nghiên cứu sẽ được thực hiện trong hai lớp toán tại trường THCS. HS được phân thành từng cặp theo khả năng và tính cách của các em. HS có năng lực cao hơn sẽ trở thành người hỗ trợ cho HS có năng lực yếu hơn. GV hướng dẫn nhiệm vụ của học sinh hỗ trợ và học sinh nhận hỗ trợ trước khi tác động. Dữ liệu được thu thập từ các bộ câu hỏi thực hiện trước và sau bài học, nội dung nhật ký của GV và HS sau mỗi bài học cũng như kết quả quan sát giờ học về hành vi của HS do một người quan sát độc lập thực hiện.

Qua phân tích dữ liệu, chúng tôi nhận thấy việc HS hỗ trợ lẫn nhau giúp thúc đẩy hành vi thực hiện nhiệm vụ của HS trong các giờ học môn Toán, qua đó giúp làm tăng kết quả học tập của HS. Chúng tôi hy vọng thông qua kết quả của việc nghiên cứu này có thể khẳng định thêm hoạt động hỗ trợ lẫn nhau của học sinh không chỉ có ảnh hưởng tích cực đối với hành vi thực hiện nhiệm vụ mà còn tạo cơ hội cho những em học sinh có năng lực cao phát triển kỹ năng trao đổi thông tin toán học.

 

THÔNG TIN CƠ SỞ

Quan sát quá trình học tập của học sinh trong lớp học, chúng tôi nhận thấy:

Lớp học thường bao gồm những học sinh có khả năng học tập khác nhau. GV không thể hỗ trợ mọi HS cùng một lúc. Mặt khác, hầu hết HS thường rất phụ thuộc vào GV. Nếu các em không được GV quan tâm, chú ý thì các em thường từ bỏ nhiệm vụ, không cố gắng giải quyết vấn đề. HS thường tỏ ra chán nản mệt mỏi, thiếu tập trung, không tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, thậm chí có em ngủ gật trong lớp. Do đó, các em thường đạt kết quả thấp trong các bài kiểm tra và các kỳ thi, cuối cùng là mất đi hứng thú đối với môn học.

 

VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Chúng tôi đã động não để tìm ra các cách thu hút HS tham gia và chịu trách nhiệm cho việc học tập của chính mình, bắt đầu bằng việc liệt kê các cách làm có thể cải thiện hành vi thực hiện nhiệm vụ của HS. Chúng tôi quyết định lựa chọn hoạt động “HS hỗ trợ lẫn nhau trong lớp học” môn Toán để nghiên cứu.

Theo DuGaul (1998), đối với hoạt động HS hỗ trợ lẫn nhau lớp học, mỗi HS được phân theo cặp với một bạn khác. Trong giờ học, những em HS có khả năng học tập tốt hơn sẽ đóng vai người hỗ trợ, có nhiệm vụ giải thích và đặt câu hỏi cho bạn HS nhận hỗ trợ và đưa ra phản hồi trong thời điểm thích hợp. Hoạt động HS hỗ trợ lẫn nhau là cách làm cho tất cả HS để nhận được hỗ trợ bạn-giúp-bạn và có đủ thời gian học tập và thực hành.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi tìm câu trả lời cho những câu hỏi sau đây:

  1. HS hỗ trợ lẫn nhau có ích lợi như thế nào trong việc đảm bảo thực hiện nhiệm vụ trong các giờ học môn Toán, góp phần nâng cao kết quả học tập của HS?
  2. Bằng cách nào để HS hỗ trợ lẫn nhau góp phần đảm bảo thực hiện nhiệm vụ trong giờ học môn Toán góp phần nâng cao kết quả học tập của HS?
  3. HS có cảm thấy việc hỗ trợ lẫn nhau có tác động tích cực đối với việc học môn Toán hay không?

 

TÌM HIỂU LỊCH SỬ ĐỀ TÀI

Đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến việc sử dụng hình thức HS hỗ trợ lẫn nhau trong việc thu hút sự tham gia của HS trong một lớp học đa dạng về khả năng. Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về chủ đề này trên đối tượng HS với số lượng lớn và nhỏ, theo dõi tiến bộ của HS trong một năm học cũng như nhiều năm học (Fulk & King, 2001).

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc HS hỗ trợ lẫn nhau có hiệu quả đối với tất cả HS, bao gồm cả những HS có vấn đề trong việc chú ý, tìm hiểu nội dung bài học và những vấn đề về cảm xúc và hành vi. Kết quả là hành vi của HS được cải thiện, HS có lòng tự tôn và động lực cao hơn cũng như được tăng cường các kỹ năng xã hội (Tournaki & Crisciticello, 2003). Cách làm này đảm bảo HS luôn tích cực tham gia và thực hiện nhiệm vụ vì nó tạo điều kiện cho HS nhận được nội dung phản hồi tức thời với nhịp độ phù hợp (DuGaul, 1998).

Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc HS hỗ trợ lẫn nhau có thể giúp nâng cao kết quả học tập của HS, đặc biệt là trong việc học môn Toán (Britz, Dixon & McLaughlin, 1989). Cả các HS hỗ trợ và HS nhận hỗ trợ đều đạt kết quả học tập tốt hơn, trong đó ảnh hưởng thể hiện rõ rệt với khả năng tự tìm khái niệm của các HS hỗ trợ.

Tuy nhiên, việc hướng dẫn cho HS trước khi thực hiện hỗ trợ bằng cách giải thích mục đích, lý do và kỹ thuật học hợp tác là rất quan trọng. Trong đó nhấn mạnh sự hợp tác hơn là ganh đua, dạy HS thực hiện tốt vai trò của người hỗ trợ và người nhận hỗ trợ (Fulk & King, 2001). Webb (1989) cũng chỉ ra các điều kiện cần đảm bảo để có được hoạt động HS hỗ trợ lẫn nhau hiệu quả: HS hỗ trợ cần có những trợ giúp phù hợp được phân tích kỹ càng, vào đúng thời điểm và dễ hiểu đối với HS nhận hỗ trợ. HS hỗ trợ cần tạo cơ hội cho HS nhận hỗ trợ sử dụng thông tin mới, đồng thời HS nhận hỗ trợ cần tận dụng cơ hội đó.

 

PHƯƠNG PHÁP

Mẫu

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu trên đối tượng HS hai lớp:

HS lớp 4G (năm thứ 4 THCS) thuộc trình độ Bình thường học hệ 5 năm THCS (Normal Academic). GV toán đã giảng dạy ở lớp được 2 năm, hiện đang là GV chủ nhiệm của lớp. GV hiểu rõ khả năng và tính cách của HS trong lớp.

HS lớp 2F (năm thứ 2 THCS). GV toán cũng là GV chủ nhiệm nên có khả năng linh hoạt khi phân nhóm HS và xếp chỗ ngồi cho các em. GV cũng có nhiều cơ hội quan sát và hiểu rõ HS hơn.

Công cụ đo và quy trình nghiên cứu

Vào đầu năm học, GV giới thiệu về cách HS hỗ trợ lẫn nhau trong lớp, nhấn mạnh về yếu tố cốt lõi đối với thành công của hoạt động hỗ trợ chính là tinh thần hợp tác chứ không phải ganh đua lẫn nhau.

Theo Fulk và King (2001): phương pháp phân cặp HS là xếp hạng HS theo thứ tự khả năng rồi phân làm hai nhóm. Những HS trong danh mục 1 sẽ được phân cặp với các HS trong danh mục 2, tránh trường hợp khả năng của 2 HS cùng cặp quá chênh nhau.

Thứ tự xếp hạng của HS 2 lớp được thực hiện dựa trên kết quả thi cuối năm của năm học trước của lớp 2F và kết quả bài kiểm tra trên lớp trước đó của lớp 4G.

Sau đó HS được nghe GV giới thiệu về hoạt động của người hỗ trợ và người nhận hỗ trợ.

Hoạt động khảo sát trước tác động được thực hiện nhằm thu thập thông tin về nhận thức và hành vi của HS trong các giờ học môn Toán. Sau đó GV thực hiện 8 đến 10 giờ học, các hoạt động hướng dẫn cho HS hỗ trợ và HS nhận hỗ trợ làm việc cùng nhau trong 7 tuần. Sau mỗi bài học, GV ghi lại quan sát của mình và nhìn lại quá trình để tìm cách cải thiện cho bài dạy tiếp theo. HS được khuyến khích viết nhật ký, nhìn lại hiệu quả bài học cũng như cảm nhận về sự giúp ích của HS hỗ trợ. Sau đó, tiến hành khảo sát sau tác động để tìm hiểu nhận thức của HS về những thay đổi hành vi của bản thân trong các giờ học môn Toán.

 

THU THẬP VÀ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

Khảo sát trước và sau tác động

Qua khảo sát (xem bảng 1): HS nhận thấy hoạt động hỗ trợ lẫn nhau là một cách làm hiệu quả  đảm bảo cho các em tham gia tích cực và thực hiện nhiệm vụ trong các giờ học môn Toán.

Bảng 1: Tự nhận thức về hành vi thực hiện nhiệm vụ

Trong giờ Toán

 

Lớp 2F

 

Lớp 4G

 

 

 

Trước TĐ

Sau tác động

Trước TĐ

Sau tác động

1

Tôi cố gắng hết sức.

67.6%

75.6%

93.3%

100%

2

Tôi luôn chăm chú.

51.4%

69.4%

80%

96.8%

3

Tôi không lãng phí thời gian ngồi chờ GV hướng dẫn hoặc phản hồi.

16.2%

16.7%

50%

73.3%

4

Tôi thường không lơ mơ hoặc ngủ gật.

48.6%

52.8%

50%

90.0%

5

Tôi không ngồi đếm thời gian đến khi kết thúc giờ học.

29.7%

61.1%

53.3%

73.3%

 

Sau khi thực hiện hoạt động HS hỗ trợ lẫn nhau, nhiều HS cho biết các em chú tâm hơn trong các giờ Toán và không còn ngủ gật hay lơ mơ nữa. Nhiều HS cảm thấy các em không lãng phí thời gian đợi GV hướng dẫn hoặc phản hồi vì bây giờ các em có thể kiểm tra câu trả lời với bạn trong nhóm hỗ trợ. Các em cũng không còn hiện tượng đếm từng phút cho đến khi giờ học kết thúc vì các em hoàn toàn bị cuốn hút vào nhiệm vụ được giao.

 

Nội dung nhật ký của HS

Phân tích nội dung nhật ký của HS sau mỗi bài học càng khẳng định việc HS hỗ trợ lẫn nhau có thể mang lại tác động tích cực đối với hành vi thực hiện nhiệm vụ trong giờ toán.

Khi HS không chắc chắn việc hỗ trợ lẫn nhau có thể mang lại điều gì, các em chia sẻ lo lắng rằng thay vì thực hiện nhiệm vụ, các em lại nói chuyện với nhau khi được yêu cầu làm việc theo nhóm hỗ trợ.

Ban đầu, học sinh ghi nhật ký: “em không chắc chắn rằng việc hỗ trợ lẫn nhau là như thế nào? Ý tưởng đầu tiên của em chỉ là học sinh dạy lẫn nhau” (Hami….)

“ Thường thì em vẫn tự làm mọi việc. Em luôn nghĩ rằng việc học sinh hỗ trợ lẫn nhau là không tốt vì bạn hỗ trợ có thể làm em mất tập trung” (Guan…)

“ Em không biết làm thế nào để hỗ trợ bạn khác, thậm chí không biết phải dạy bạn như thế nào? Em không biết phải nói gì với bạn. Em không biết phải dạy bạn bằng cách nào” (….)

“ Em cảm thấy không quen khi có một bạn hỗ trợ cùng làm việc với mình”

Sau vài tuần, nội dung nhật ký của các em có dấu hiệu tích cực hơn. Các em thích làm việc cùng nhau và chủ động hơn trong việc tìm kiếm và tự nguyện hỗ trợ khi được giao nhiệm vụ làm việc theo cặp.

Những HS nhận hỗ trợ nhận thấy nhờ có hỗ trợ của bạn, các em đã tập trung hơn trong giờ học và có cải thiện trong kết quả môn học. Các em không còn lãng phí thời gian chờ sự hỗ trợ của GV nữa.

“Với sự hỗ trợ của bạn, vịêc học của em đã tiến bộ dần dần. Cả hai đều tập trung vào nhiệm vụ và không phí thời gian nói chuyện riêng” (….)

“Em học tốt hơn khi đựoc bạn hỗ trợ. Em hiểu bạn nhiều hơn và tình bạn của chúng em ngày càng gắn bó” (…)

“Em đã học đựoc rất nhiều điều – Học thầy không tày học bạn- Em hiểu vấn đề nhanh hơn bình thường” (…)

“Ban đầu thì em cảm thấy thiếu tự tin khi phải học từ bạn, nhưng khi nhận thấy tất cả các lỗi của mình chỉ là do bất cẩn, em cảm thấy hy vọng hơn” (…)

“Hoạt động này tốt vì em luôn nhận đựoc sự hỗ trợ từ người khác” (…)

Các HS hỗ trợ thì chia sẻ rằng các em rất thích được tương tác và gắn kết với các bạn cùng lớp. Một số HS cho biết hiện tại các em cần chú ý hơn trong giờ học và hiểu rõ các khái niệm để giúp bạn. Một số khác cho biết các em cần trở thành tấm gương cho các bạn HS nhận hỗ trợ và cảm thấy đã đạt được thành công khi các bạn học tốt hơn.

“Mặc dù đôi lúc bạn nhận hỗ trợ cũng làm em sao nhãng, nhưng việc học cùng nhau giúp em học được nhiều hơn” (…)

“Hoạt động này không chỉ đơn giản là dạy lẫn nhau mà còn khuyến khích tương tác, tăng cường tình bạn gắn bó. Điều này cũng giúp chúng em tập trung hơn vào bài học và các nhiệm vụ được giao” (…)

“Chúng em có thể cùng nhau suy nghĩ thay vì nghĩ một mình” (…)

“Em rất vui khi bạn học sinh hỗ trợ hiểu câu hỏi của mình” (…)

“Em cảm thấy rất vui vì bản thân bạn hỗ trợ mình cũng học đựơc nhiều hơn” (..)

“Em cảm thấy vui khi có cảm giác mình là người hiểu biết. Em cảm thấy lo lắng và bực bội khi bạn học sinh nhận hỗ trợ không hiểu mình.”

 

Nội dung nhìn lại quá trình của GV

Việc so sánh nội dung nhìn lại quá trình của 2 GV cho thấy cả hai đều gặp phải vấn đề phát sinh khi thực hiện hoạt động HS hỗ trợ lẫn nhau. Có một số HS cảm thấy không thoải mái với bạn cùng cặp nên GV cần phải sắp xếp lại. GV cũng lo lắng khi thấy lớp học khá ồn ào và một số HS nói chuyện riêng trong khi thực hiện NV. HS cũng không chắc chắn về một số thuật ngữ toán học nên đã chuyển sang nói tiếng mẹ đẻ trong khi thảo luận.

GV nhắc nhở HS sử dụng tiếng Anh trong khi thảo luận và nhấn mạnh việc sử dụng chính xác các thuật ngữ toán học khi dạy về các khái niệm ở phần đầu của bài học. GV khuyến khích HS tạo cơ hội cho bạn thực hiện vai trò của mình đồng thời ghi lại những điều không hài lòng về việc làm của bạn.

Sau một thời gian, GV quan sát thấy mặc dù lớp học vẫn rất ồn ào, các cuộc nói chuyện phiếm đã giảm đi. HS tham gia thảo luận nhiều hơn về các nội dung toán học hơn là nói chuyện riêng. Các em cũng sử dụng các thuật ngữ toán học thành thạo hơn.

HS chăm chú hơn vào bài học và mau chóng hoàn thành nhiệm vụ được giao. Các em cũng chủ động yêu cầu giúp đỡ khi không chắc chắn. Đôi khi khoảng cách giữa HS hỗ trợ và HS nhận hỗ trợ mờ dần khi có sự hoán đổi vai trò, phụ thuộc vào việc ai gặp khó khăn. Các cặp HS đôi khi tìm đến sự hỗ trợ của các cặp khác khi không thể hoàn thành nhiệm vụ được giao.

 

TÓM TẮT KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Tóm lại, các kết quả trong nghiên cứu cho thấy việc HS hỗ trợ lẫn nhau là một hoạt động hữu ích, đảm bảo HS thực hiện nhiệm vụ trong các giờ học toán. HS được phân cặp với một HS khác để cùng học tập và có thể tìm kiếm hỗ trợ và phản hồi tức thời một cách dễ dàng từ bạn mình. HS hỗ trợ thực hiện nghiêm túc vai trò của mình cũng cố gắng chú ý hơn trong giờ học để sẵn sàng trợ giúp bạn mình.

Chúng tôi đã quan sát thấy hầu hết HS thích được tạo cơ hội liên kết và hợp tác với nhau. Hành vi trong lớp học của các em được cải thiện, các em trở thành những người học tập độc lập hơn.

Việc phân tích kết quả một số bài kiểm tra gần đây chỉ ra rằng một số HS nhận hỗ trợ đạt điểm cao hơn trong môn Toán. Sự cải thiện về điểm số thể hiện rõ rệt hơn ở nhóm HS rất yếu. Tuy nhiên chúng tôi cảm thấy chưa đầy đủ nếu chỉ đưa ra lý do cho sự cải thiện này là do tác động của hoạt động HS hỗ trợ lẫn nhau.

Khi thực hiện hoạt động này, GV cũng nhận thức tốt hơn nhu cầu áp dụng phù hợp mô hình hỗ trợ, đó là hướng dẫn HS tự tìm ra câu trả lời bằng cách đặt câu hỏi thay vì đưa ra đáp án quá vội vàng. Do đó, HS học cách thảo luận với nhau và suy nghĩ kỹ hơn chứ không chỉ tìm đến câu trả lời của GV.

 

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Nghiên cứu của chúng tôi là bước đầu trong việc khám phá các hoạt động dạy học mang lại sự cải thiện trong hành vi thực hiện nhiệm vụ trong lớp học. Chúng tôi đã áp dụng chu trình nghiên cứu: “Nhìn lại quá trình, lập kế hoạch, thực hiện tác động, quan sát” trong NCKHSPƯD vào nghiên cứu này. Việc thu thập dữ liệu tập trung chủ yếu vào việc HS chấp nhận hỗ trợ lẫn nhau trong giờ toán và những thay đổi hành vi của HS đối với việc học môn Toán.

HS hỗ trợ lẫn nhau là một phương pháp thu hút sự tham gia của HS phù hợp với triết lý đổi mới giáo dục của Singapore “Dạy ít, học nhiều”. Những HS học tốt hơn có vai trò là HS hỗ trợ sẽ giải thích, đặt câu hỏi và đưa ra phản hồi tại thời điểm thích hợp. HS nhận hỗ trợ được hưởng lợi nhờ được giải thích và khuyến khích đặt câu hỏi mà không sợ bị lúng túng trước lớp. HS được tạo cơ hội để thảo luận về việc học và phối hợp, hợp tác với nhau.

Cuối cùng, chúng tôi xin đề xuất một số kiến nghị sau đây cho các nhà giáo dục có mong muốn thực hiện hoạt động HS hỗ trợ lẫn nhau trong lớp học:

  1. Để đạt hiệu quả tối đa trong hoạt động HS hỗ trợ lẫn nhau, GV nên linh hoạt trong việc sắp xếp HS theo cặp, khuyến khích HS đưa ra phản hồi tức thời về hoạt động của bạn HS trong cặp. Dựa vào những phản hồi này, GV có thể sắp xếp lại hợp lý các cặp HS hỗ trợ và HS nhận hỗ trợ.
  2. Các nhiệm vụ được giao nên có độ khó nhất định để HS nhận hỗ trợ có thể học hỏi từ HS hỗ trợ. Tuy nhiên các nhiệm vụ quá khó có thể khiến hầu hết HS phải nhờ đến sự hỗ trợ GV, do vậy không đạt được mục đích của hoạt động HS hỗ trợ lẫn nhau. GV cần đảm bảo có sự hướng dẫn đầy đủ đối với những nhiệm vụ khó.

 ĐỀ TÀI. Tăng tỷ lệ hoàn thành bài tập và độ chính xác trong giải bài tập Toán bằng việc sử dụng thẻ báo cáo hằng ngày

  B.M.Drew và các cộng sự, 1982

Khung nghiên cứu:

Hiện trạng

- 2 em HS lớp 3 là Jeff và David thường xuyên không làm bài tập Toán trên lớp.

- Cách giáo viên thường áp dụng đối với các em học sinh này là khiển trách; giữ các em ở lại trong giờ giải lao hoặc sau giờ tan trường; góp ý nhẹ nhàng hoặc phạt, thuyết phục;...

Giải pháp

 thay thế

Giáo viên sử dụng thẻ báo cáo hằng ngày để thông báo cho cha mẹ học sinh về hành vi có tiến bộ của các em. Khi đó, cha mẹ các em sẽ khen ngợi - cho phép các em xuống dưới nhà chơi.

Vấn đề nghiên cứu

Việc sử dụng thẻ báo cáo hàng ngày có làm tăng tỷ lệ hoàn thành bài tập và độ chính xác trong giải bài tập Toán không?

Giả thuyết nghiên cứu: Có, Việc sử dụng thẻ báo cáo hàng ngày có làm tăng tỷ lệ hoàn thành bài tập và độ chính xác trong giải bài tập Toán.

Thiết kế

Thiết kế đa cơ sở AB.

Quan sát việc hoàn thành bài tập toán của 2 học sinh trước và sau tác động

Đo lường

Tỷ lệ hoàn thành - số lượng các bài tập được hoàn thành.

Độ chính xác - số lượng các bài tập được giải chính xác.

Phân tích

So sánh đường đồ thị ở giai đoạn cơ sở với đường đồ thị ở giai đoạn có tác động.

Kết quả

Cả Jeff và David đều có cải thiện về tỷ lệ hoàn thành bài tập và độ chính xác trong giải bài tập.

Như vậy, bằng việc sử dụng thẻ báo cáo hằng ngày với sự hợp tác của cha mẹ HS, GV đã có thể khiến Jeff và David thay đổi hành vi trong tiết Toán và cải thiện đáng kể điểm số.

 

Hiện trạng

Giáo viên – người nghiên cứu thấy có hai em học sinh trong lớp  thường xuyên không làm bài tập toán trên lớp và giáo viên đã đưa ra nhiều biện pháp như trách phạt, giữ lại sau giờ học, góp ý, thuyết phục… Những cách làm đó có không đem lại. Liệu giáo viên có nên tiếp tục những cách làm không hiệu quả? Không, họ cần tìm ra giải pháp thay thế.

Giải pháp thay thế

Giáo viên - người nghiên cứu chọn một giải pháp thay thế là sử dụng thẻ báo cáo hằng ngày với sự hợp tác của cha mẹ học sinh. Cuối mỗi tiết Toán, giáo viên kiểm tra xem liệu Jeff (và David) đã hoàn thành tất cả các bài tập được giao hay chưa. Nếu như các em đã hoàn thành, giáo viên sẽ đánh dấu lên thẻ và ký tên.

Em học sinh sẽ mang tấm thẻ đó về nhà và đưa cho mẹ xem. Sau khi nhìn thấy đánh dấu của giáo viên xác nhận Jeff đã hoàn thành bài tập, mẹ Jeff có thể khen ngợi và cho phép em xuống dưới nhà chơi. Đây là thoả thuận giữa giáo viên với mẹ của Jeff và Jeff cũng biết điều này. Nói cách khác, việc được xuống dưới nhà chơi tuỳ thuộc vào việc Jeff có hoàn thành toàn bộ bài tập Toán trên lớp hay không.

Vấn đề nghiên cứu

Việc sử dụng thẻ báo cáo hàng ngày có làm tăng tỷ lệ hoàn thành bài tập và độ chính xác trong giải bài tập Toán không?

Giả thuyết nghiên cứu: Có, Việc sử dụng thẻ báo cáo hàng ngày có làm tăng tỷ lệ hoàn thành bài tập và độ chính xác trong giải bài tập Toán.

Thiết kế

Thiết kế sử dụng trong nghiên cứu này là Thiết kế đa cơ sở AB. Giáo viên ghi chép kết quả học tập của Jeff vài ngày trước khi bắt đầu nghiên cứu. Đây là giai đoạn cơ sở. Ở giai đoạn này, không có tác động nào được thực hiện để thay đổi hành vi của Jeff. Sau đó, thẻ báo cáo hằng ngày được sử dụng. Tác động này còn được gọi là can thiệp. Giáo viên vẫn tiếp tục ghi chép kết quả của Jeff.

 

Chúng ta hãy tìm hiểu thiết kế của nghiên cứu này: Trong ngôn ngữ nghiên cứu, giai đoạn cơ sở được gọi là A. Giai đoạn tác động được gọi là B. Thiết kế mà ví dụ này sử dụng chỉ có một giai đoạn cơ sở, một giai đoạn tác động và được gọi là thiết kế AB.

Có thể ngừng tác động sau giai đoạn B, có nghĩa là quay trở lại A. Cũng có thể lại tiếp tục giai đoạn B sau giai đoạn A thứ hai. Do vậy, thiết kế này được mở rộng để trở thành thiết kế ABAB. Với thiết kế phức tạp hơn này, có thể khẳng định chắc chắn hơn về ảnh hưởng của giai đoạn B.

 

 

Giáo viên áp dụng phương pháp tương tự với David nhưng với một giai đoạn cơ sở khác là 10 ngày. Kết quả tương tự như kết quả của Jeff. Tỷ lệ hoàn thành bài tập và độ chính xác trong giải bài tập của David ở giai đoạn cơ sở trung bình khoảng 35%.

Trong giai đoạn có tác động, tỷ lệ hoàn thành bài tập của David là 100% và độ chính xác trung bình là 80%.

Trong thiết kế nghiên cứu này, chúng ta thấy giai đoạn cơ sở A đối với Jeff là 4 ngày nhưng đối với David là 10 ngày. Do có hai đường cơ sở khác nhau nên thiết kế này được gọi là thiết kế đa cơ sở AB.

 

Lưu ý: có thể sử dụng thiết kế này cho hai học sinh trở lên (ví dụ: 4 học sinh). Trong trường hợp như vậy, chúng ta có thể có nhiều giai đoạn cơ sở hơn (ví dụ: tới 4 giai đoạn cơ sở).

 

Tại sao lại có các giai đoạn cơ sở khác nhau? Lý do chính là để tăng độ giá trị của dữ liệu bằng việc kiểm soát nguy cơ tiềm ẩn. Nguy cơ tiềm ẩn là nguy cơ đối với độ giá trị của bản thân dữ liệu, do một yếu tố bên ngoài có thể gây ảnh hưởng tới biến số phụ thuộc này. Trong trường hợp ở đây, nguy cơ tiềm ẩn đề cập tới những yếu tố khác (ngoài thẻ báo cáo hằng ngày) cũng đã có thể thay đổi hành vi của Jeff. Vì hai học sinh cùng lớp nên về mặt lôgíc, những gì xảy ra trong lớp học làm thay đổi hành vi của Jeff thì cũng sẽ thay đổi hành vi của David. Rõ ràng, khi nhìn vào hai đường đồ thị, chúng ta không thấy nguy cơ tiềm ẩn và ảnh hưởng của việc sử dụng thẻ báo cáo hằng ngày rõ rệt hơn.

Đo lường

Các công cụ đo mà nghiên cứu này sử dụng gồm tỷ lệ hoàn thành bài tập trên lớp và độ chính xác trong giải bài tập của học sinh.

Mục tiêu cơ bản của nghiên cứu là thay đổi thói quen không làm bài tập toán của Jeff và David. Do vậy, phép đo đầu tiên là đếm số bài tập học sinh hoàn thành sau khi được giao. Đây chính là tỷ lệ hoàn thành. Vì giáo viên phải đánh dấu các bài tập đã hoàn thành nên cũng đồng thời ghi số bài tập được giải chính xác. Đây chính là độ chính xác. Trong nghiên cứu này, chúng ta thấy không có bài kiểm tra nào được sử dụng để thu thập dữ liệu phục vụ nghiên cứu.

Phân tích

Tỷ lệ hoàn thành bài tập và độ chính xác trong giải bài tập được biểu thị dưới dạng các đường đồ thị thể hiện hành vi của Jeff và David trong giai đoạn cơ sở và giai đoạn có tác động. Nếu hành vi giải bài tập Toán trên lớp của các em có tiến bộ, chúng ta sẽ thấy đường đồ thị ở giai đoạn có tác động cao hơn đường đồ thị ở giai đoạn cơ sở. Trường hợp này đúng là như vậy. Chúng ta cũng thấy rằng không có phép kiểm chứng nào được sử dụng để kiểm tra kết quả. Chúng ta chỉ cần quan sát đường đồ thị để rút ra kết quả.

 

Kết quả

 

 

 

Quan sát đường đồ thị cho thấy hai học sinh đã có thay đổi trong hành vi làm bài tập Toán trên lớp. Cả hai em đều đã hoàn thành nhiều bài tập hơn và đạt điểm cao hơn trong giai đoạn có tác động so với giai đoạn cơ sở.

Chúng ta hãy nhìn vào đường đồ thị biểu thị kết quả học tập của Jeff. Giai đoạn cơ sở kéo dài 4 ngày, trong đó Jeff chỉ hoàn thành rất ít bài tập (khoảng 5%). Hơn nữa, điểm của em cũng rất thấp.

Từ ngày thứ 5 trở đi, thẻ báo cáo hằng ngày được sử dụng. Mẹ của Jeff chỉ cho phép em xuống dưới nhà chơi sau khi thấy có đánh dấu của giáo viên trên thẻ, xác nhận em đã hoàn thành tất cả các bài tập được giao.

Như chúng ta thấy, sau khi bắt đầu có tác động, Jeff đã hoàn thành tất cả bài tập Toán trên lớp. Đáng ngạc nhiên là điểm của Jeff đã tăng trung bình khoảng 85%. Do vậy, bằng việc đơn giản là sử dụng thẻ báo cáo hằng ngày với sự hợp tác của mẹ học sinh, giáo viên đã có thể khiến Jeff thay đổi hành vi trong tiết Toán và cải thiện đáng kể điểm số.

 

 

 


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Viết Xuân @ 11:09 19/11/2013
Số lượt xem: 196
Số lượt thích: 1 người (Nguyễn Đăng Tiến)
 
Gửi ý kiến