Chào mừng quý vị đến với website của Trường THPT Tân Đông

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Chuyện làng giáo > Nghiên cứu khoa học > Sưu tầm >

SKKN : Ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường

BÁO CÁO TÓM TẮT

Sáng kiến kinh nghiệm

1. Người thực hiện:

- Họ và tên: Nguyễn Bảo Tuân

- Năm sinh: 1963

- Đơn vị công tác: Trường THCS Tập Sơn

- Chức vụ hiện tại: Phó Hiệu trưởng

- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm

2. Tên sáng kiến:  Ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường

3. Nội dung sáng kiến:

A. Đặt vấn đề:

Trong lãnh vực ứng dụng của CNTT, giáo dục và đào tạo được coi là lĩnh vực có rất nhiều triển vọng. Vì vậy “Ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường”là một vấn đề cần quan tâm và thực hiện tốt từ năm học 2008 - 2009.

B. Nội dung:

I. Cơ sở lý luận

II. Các biện pháp thực hiện

1. CNTT như một môn học: Việc dạy CNTT ở bậc học phổ thông có 3 mục đích và nội dung;

2. CNTT như một công cụ hỗ trợ việc giảng dạy và học tập các môn khác, đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập:

     CNTT là công cụ, phương tiện cải thiện và nâng cao năng lực lao động, làm thay đổi cách sống và cách làm việc. Với giáo dục và đào tạo, CNTT thay đổi cách dạy và cách học, đổi mới tư duy về phương pháp giảng dạy, giúp học sinh chủ động và tích cực hơn.

3. CNTT như một công cụ hỗ trợ công tác quản lý;

4. Các ứng dụng khác;

4.1. CNTT như một công cụ hỗ trợ việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ của giáo viên và cán bộ quản lý;

4.2. CNTT phục vụ giải trí, thư giãn lành mạnh;

4.3. CNTT như một động lực, một môi trường cho sự phát triển của nhà trường, của sự nghiệp giáo dục và đào tạo;

III. Kết quả thực hiện

B. Kết luận

4. Thời gian thực hiện sáng kiến: tháng 8/ 2008 – tháng 5/ 2009

5. Phạm vi áp dụng: Nội bộ trường THCS Tập Sơn và có báo cáo bồi dưỡng chuyên môn về ứng dụng CNTT cho giáo viên Vật lý THCS trong tỉnh.

6. Hiệu quả:  100% CBGV trường biết sử dụng vi tính,  trong đó 90% có chứng chỉ A – B tin học. Mỗi giáo viên đều biết soạn giáo án điện tử, thao giảng bằng giáo án điện tử; Có 2 giáo viên dự thi giáo án điện tử cấp Huyện và cấp Tỉnh; Thực hiện báo cáo nhanh đến Phòng GD& ĐT qua e-mail; Lập các chương trình quản lý như quản lý giáo viên, quản lý học sinh, lập các quyết định - văn bản, sắp xếp thời khóa biểu, thống kê các số liệu, quản lý hồ sơ phổ cập giáo dục… Tất cả hiệu quả nhanh chóng, chính xác.

 

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ                               NGƯỜI BÁO CÁO

                                                                                                              Nguyễn Bảo Tuân

A. ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Chúng ta đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ, mà nổi bật là công nghệ thông tin ( CNTT ). Thông tin đang trở thành một nguồn lực quan trọng; tri thức mang lại giá trị lớn và là nguồn vốn quý để phát triển, mở ra một thời đại mới - Thời đại thông tin.

Thời đại thông tin có các đặc điểm: gắn liền với sự hình thành xã hội thông tin, một xã hội mà số người tham gia công việc xử lý thông tin nhiều hơn tổng số người làm việc trong các lãnh vực nông nghiệp và công nghiệp; sự thành công không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào việc biết dùng máy tính mà phụ thuộc vào việc nắm bắt khả năng, hạn chế và các nguyên tắc của CNTT; biến đổi các công cụ lao động và quy trình công việc theo hướng hiệu quả hơn, năng xuất hơn; CNTT được ứng dụng hầu hết vào và làm tăng giá trị các sản phẩm dịch vụ. Con người tạo ra môi trường đó, nhưng chính sự phát triển khách quan của môi trường đó lại đòi hỏi con người phải tự biết biến đổi nhằm có thêm tri thức và năng lực mới để thích nghi với môi trường mới. CNTT góp phần quan trọng hình thành nên môi trường mới đó và cũng chính CNTT hỗ trợ đắc lực cho con người phát huy tiềm năng và trí tuệ để tồn tại và phát triển. Nó là một yếu tố bên cạnh nguồn vốn và nhân lực, là một trong ba điều kiện tiên quyết để thành công về kinh tế - xã hội. Chỉ thị 58 nêu rõ: “CNTT là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại”. Có thể nói không có một ngành khoa học và công nghệ nào lại phát triển nhanh chóng và có sự ứng dụng sâu rộng như CNTT.

Trong lãnh vực ứng dụng của CNTT, giáo dục và đào tạo được coi là lĩnh vực có rất nhiều triển vọng. Chỉ thị 29 nêu rõ: “Ứng dụng và phát triển CNTT trong giáo dục và đào tạo sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trong đổi mới, nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục”. Vì vậy “Ứng dụng công nghệ thông tin trong nhà trường”là một vấn đề cần quan tâm và thực hiện tốt từ năm học 2008 - 2009.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

B. NỘI DUNG

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:

Theo dự báo của các chuyên gia thì thế kỷ 21, chúng ta sẽ chứng kiến thay đổi sâu sắc trong công nghệ giáo dục và đào tạo nhờ CNTT. Những tiến bộ mới nhất của CNTT như Internet, Multimedia, truyền thông băng rộng, DVD,… đang hứa hẹn những biến đổi có tính cách mạng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo trên quy mô toàn cầu.

Với giáo dục và đào tạo, CNTT có những vai trò và ứng dụng sau:

  • CNTT là một nội dung giáo dục và đào tạo. có 2 loại nội dung:

+ Nội dung phổ thông là những vấn đề mà mọi người đầu phải biết để chuẩn bị cho cuộc sống thế kỷ 21.

+ Nội dung đặc biệt là những vấn đề thuộc lĩnh vực mà một nhóm người phải học như một nghề nghiệp.

  • CNTT là một tiến bộ khoa học kĩ thuật mũi nhọn, là công cụ đổi mới giáo dục, máy tính điện tử sử dụng trong quá trình dạy học để cải tiến phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. ở nội dung này, người ta phân biệt: máy tính điện tử được giáo viên sử dụng như một công cụ dạy học và được sử dụng như máy dạy học thay thế hoàn toàn giáo viên. Xu hướng chung hiện nay trong giáo dục và đào tạo là sử dụng máy tính điện tử như công cụ dạy học.
  • CNTT mang lại một tài nguyên giáo dục cho tất cả mọi người. Nói một cách cụ thể về phương diện giáo dục và đào tạo, CNTT có vai trò và ứng dụng:

-         CNTT như một môn học

-         CNTT như một công cụ hỗ trợ việc giảng dạy và học tập các môn học, đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập.

-         CNTT như một công cụ hỗ trợ công tác quản lý.

-         CNTT là một công cụ hỗ trợ việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ của giáo viên và cán bộ quản lý, phục vụ giải trí, thư giãn lành mạnh và là động lực, một môi trường cho sự phát triển của nhà trường, của sự nghiệp giáo dục và đào tạo.

Chỉ thị 29 nêu rõ: “Ứng dụng và phát triển CNTT trong giáo dục và đào tạo sẽ tạo ra một bước chuyển cơ bản trong quá trình đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, học tập và quản lý giáo dục”.

 

II. CÁC BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CỦA CNTT TRONG NHÀ TRƯỜNG:

1. CNTT như một môn học:

Ngày nay tri thức và kỹ năng xử lý thông tin đã trở thành kiến thức phổ thông mà ai cũng cần biết. Vì vậy việc giảng dạy CNTT, coi CNTT là một môn học chính thức là điều hết sức cần thiết. Việc dạy CNTT ở bậc học phổ thông có 3 mục đích và nội dung sau:

-         Phổ cập kiến thức phổ thông về CNTT cho cả học sinh lẫn giáo viên;

-         Giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh;

-         Bồi dưỡng năng khiếu.

Thực tế hiện nay việc dạy tin học ở các trường THCS mới là môn học tự chọn.  Việc đưa CNTT vào giảng dạy trong nhà trường là một việc khó khăn. Sở dĩ bản thân CNTT biến đổi rất nhanh, hơn nữa chúng ta còn rất thiếu đội ngũ giáo viên. Mặt khác, chúng ta không đủ kinh phí để trang bị máy.

2. CNTT như một công cụ hỗ trợ việc giảng dạy và học tập các môn khác, đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập:

CNTT là công cụ, phương tiện cải thiện và nâng cao năng lực lao động, làm thay đổi cách sống và cách làm việc. Với giáo dục và đào tạo, CNTT thay đổi cách dạy và cách học, đổi mới tư duy về phương pháp giảng dạy, giúp học sinh chủ động và tích cực hơn. Chỉ thị 29 nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng CNTT như một công cụ hỗ trợ đắc lực nnất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học”. Đây là hướng sử dụng các phương tiện phần mềm CNTT hỗ trợ giảng dạy và học tập các môn học khác nhau. Đó là chương trình tra cứu, các công cụ thiết kế bài giảng, bài thực hành, bài kiểm tra cho học sinh. hỗ trợ việc dạy có thể bao gồm các công việc: dạy luyện tập và thực hành, dạy đàm thoại, tiến hành trắc nghiệm và dạy chương trình hoá, tìm kiếm tài liệu soạn bài. Còn hỗ trợ việc học các công việc: tham gia trò chơi, học khám phá, nghiên cứu dữ liệu và lập trình cho máy tính.

Tuy nhiên, hiện nay hướng phát triển các phần mềm trợ giúp việc học tập các môn học của học sinh ở các trường gần như bỏ trống. hiện nay chúng ta nặng về mua sắm trang thiết bị, chưa quan tâm đúng mức đến việc triển khai đưa ra các phần mềm vào giáo dục, ít nhiều ảnh hưởng tới suy nghĩ coi thường chất xám xã hội.

Trong dạy học, máy tính có một số lợi ích sau:

  • Đáp ứng một số yêu cầu của quá trình dạy học: hình thành kiến thức mới, rèn luyện kĩ năng, ôn tập củng cố kiến thức và giúp học sinh thường xuyên tự đánh giá kết quả học tập, có thể ngăn ngừa những trò gian lận.
  • Cho phép người học theo nhịp độ phù hợp với khả năng tiếp thu riêng, công việc của người thầy ở trên lớp đỡ căng thẳng, có nhiều thời gian sâu sát từng em học sinh, tạo khả năng cá thể hoá trong học tập của người học.
  • Màu sắc, âm thanh, các hình ảnh thật và các hình vẽ phong phú khắc phục hạn chế của sách giáo khoa và các thiết bị “tĩnh” khác bằng những hình ảnh “động” nên hấp dẫn, lôi cuốn, truyền cảm hơn. Chỉ với một đĩa CDROM chứa tới 26.000 đề tài với 9 triệu chữ, 7000 hình ảnh minh hoạ, 800 bản đồ, 256 biểu bảng, trên 100 hình hoạ và đoạn phim video… Các thí nghiệm mô phỏng cung cấp một môi trường để khám phá những khái niệm mới. các thí nghiệm ảo là một hệ thống cho phép có thể quan sát cử động. hệ thống này cho ta những ảo giác như thể đã nhìn, đụng chạm, thậm chí thực hiện một thao tác lên một đối tượng ảo. Các thí nghiệm này giúp cho học sinh rèn luyện kĩ năng, học thực hành, làm các thí nghiệm trong điều kiện thiếu trang thiết bị không có điều kiện quan sát trực tiếp, tạo nên môi trường thí nghiệm đa dạng.
  • Máy tính nối mạng có thể cung cấp cho người sử dụng những thông tin đa dạng từ các nguồn khác nhau. học tập qua mạng cho phép tăng cường học nhóm, tăng cường trao đổi giữa học sinh và thầy giáo qua e-mail, người học không bị bị khống chế về thời gian, không gian, phù hợp với xu thế của thế kỷ 21 là học cho mọi người, học ở môi nơi, mọi lúc, mọi thứ bạn cần, học một cách mở, mềm dẻo và suốt đời.
  • Các chương trình giải quyết những vấn đề chuyên biệt (thống kê, phân tích, đánh giá kết quả học tập,…) giúp người sử dụng không cần tốn nhiều thời gian mà rất hiệu quả và chính xác.

Tóm lại, CNTT có thể can thiệp vào các tình huống sư phạm sau:

  • Tự học có hướng dẫn: sau các tiết lên lớp, theo sự hướng dẫn của thầy, học sinh ngồi trước máy (ở trường, nhà,… ) để học bài, làm bài, chuẩn bị bài hôm sau.
  • Minh họa tiết dạy: xem một đoạn phim, làm một thí nghiệm ảo giả lập…
  • Tiết giảng thực hành: trong lớp, mỗi học sinh có máy tính trước mặt, xen kẽ nhanh giữa giảng trên bảng của thầy và các học sinh thực hành trên máy…
  • Các giáo viên còn dùng máy tính để soạn bài giảng, giáo án, bài kiểm tra học sinh và tự trao dồi kiến thức….

Tuy nhiên, dạy học bằng máy tính có những khó khăn và hạn chế sau:

  • Giá thành, phương tiện và nhất là phần mềm khá cao. Dạy học bằng máy khá tốn kém.

Các phần mềm dưới đây đã được sử dụng trong các trường phổ thông để hỗ trợ việc giảng dạy:

-         Phần mềm thiết kế bài giảng, bài học, tài liệu dạy - học trên máy tính: Microsoft Powerpoint, Microsoft FrontPage, Adobe Golive, Actual Drawing

-         Các phần mềm chuyên dụng hỗ trợ cho giảng dạy và học tập:  Geometry Sketchpad, Cabri Geometry, Physics, Photoshop, Corel Draw,…

Việc sử dụng CNTT vào dạy và học là tiến hành một cuộc cải cách sâu sắc trong giáo dục. Đó là một công việc mới, khó cần phải có sự sáng tạo, đầu tư nghiên cứu nhiều thời gian. Ở đây không phải chỉ có trang bị máy tính, mở lớp tin học, đặt mua vài đĩa CDROM… mà quan trọng nhất là xác lập được phương pháp dạy học mới, có các phần mềm dạy học thể hiện nhuần nhuyễn và triệt để phương pháp đó, có giáo viên có tinh thần cải cách và cầu tiến, việc quản lý trong trường cũng phải được thay đổi cho phù hợp…

3. CNTT như một công cụ hỗ trợ công tác quản lý:

Tồn tại và phát triển trong một môi trường đa dạng, đòi hỏi những người lãnh đạo và quản lý phải sáng suốt, linh hoạt. Công tác quản lý là quá trình thu thập thông tin, xử lý thông tin và ra quyết định. Vì vậy đây là một hướng phát triển rất quan trọng trong việc đưa CNTT vào nhà trường. CNTT như một công cụ quan trọng trợ giúp các cán bộ quản lý, trợ giúp nhà trường thu thập, lưu trữ, xử lý và sử dụng thông tin, nghĩa là nó là một công cụ trong công tác quản lý. Các lĩnh vực quản lý chính trong nhà trường có thể ứng dụng CNTT:

-         Quản lý công tác giảng dạy và thời khóa biểu giáo viên.

-         Quản lý hoạt động học tập và điểm số học sinh, các số liệu về chất lượng giáo dục.

-         Quản lý văn thư.

-         Quản lý thư viện.

-         Quản lý đội ngũ cán bộ giáo viên. Theo dõi quá trình học tập bồi dưỡng của giáo viên, việc nâng lương hằng năm cho CBGV-NV nhà trường…

-         Quản lý cơ sở vật chất và tài chính…

Các công tác trên hoạt động theo chế độ “tự động”, “bán tự động”, hoặc “trực tiếp” là do ý muốn và khả năng của chúng ta, người sử dụng.

Nói chung, hệ thống quản lý sử dụng CNTT bao gồm năm thành phần tối thiểu sau: phần cứng; các chương trình phần mềm; thông tin ( số liệu hữu ích, có nghĩa được thu thập, luân chuyển, lưu trữ và xử lý ); con người và quy trình thủ tục.

4. Các ứng dụng khác:

4.1. CNTT như một công cụ hỗ trợ việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ của giáo viên và cán bộ quản lý:

Đội ngũ giáo viên có vai trò quan trọng để đưa các ứng dụng CNTT vào nhà trường. Nhưng chính việc tiến hành các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho giáo viên, các chương trình bồi dưỡng trực tuyến trên mạng máy tính và việc tìm kiếm, tra cứu các thông tin trên mạng phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học cũng như các công tác khác sẽ tăng cường khả năng nâng cao trình độ, tự bồi dưỡng của giáo viên và cán bộ quản lý. Thực tế chứng tỏ mạng Internet mang lại một tài nguyên giáo dục phong phú cho tất cả mọi người.

4.2. CNTT phục vụ giải trí, thư giãn lành mạnh:

Ngành công nghiệp phần mềm về giải trí, thư giãn là ngành công nghiệp phát triển trong ngành công nghiệp phần mềm nói chung. Các sản phẩm theo hướng này rất đa dạng và phong phú. Đây cũng là hướng phát triển quan trọng và cần thiết cho nhà trường. Chúng làm giảm nhẹ những tress có trong nhà trường và gia đình, làm tăng hiệu quả học tập trên lớp. Mặt khác, thông qua các phần mềm vui chơi, giải trí lành mạnh, học sinh có thêm rất nhiều kiến thức bổ sung cho những điều đã học trên lớp.

4.3. CNTT như một động lực, một môi trường cho sự phát triển của nhà trường, của sự nghiệp giáo dục và đào tạo:

Có thể nói, CNTT đã làm thay đổi bản chất vai trò của thông tin và tri thức, từ chỗ tiềm năng trở thành hiện thực, từ vị trí thụ động thành một sức mạnh chủ động. Các nguồn thông tin và dữ liệu được thu thập, tổ chức rộng khắp, truyền, chia xẻ một cách gần như tức thời, được xử lý nhanh chóng, được khai phá và đúc kết thành những tri thức cần thiết. CNTT đã giúp thông tin và tri thức phát huy được sức mạnh của mình: con người thâm nhập các nguồn tri thức một cách dễ dàng và kịp thời. Có môi trường liên kết thông qua mạng máy tính từ quy mô nhỏ ở một trường cho đến quy mô một quốc gia hay toàn thế giới là một xu thế tất yếu của việc đưa CNTT vào nhà trường. Mạng Internet kết nối hàng trăm triệu máy tính có thể truy cập hàng triệu nguồn cung cấp thông tin trên khắp thế giới. Chúng không còn là một phương tiện kỹ thuật đơn thuần mà trở thành một môi trường mới của mọi hoạt động, trong đó có giáo dục.

Với sự phát triển nhanh chóng của Internet, CNTT như một cầu nối thông tin, liên kết và trao đổi giữa nhà trường và thế giới bên ngoài, giữa các yếu tố trong nhà trường, giữa thầy và trò… tất cả sẽ góp phần thúc đẩy sự say mê học tập của học sinh, sẽ tào thành một môi trường, một cơ hội học tập, rèn luyện, vui chơi… với một môi trường liên kết như vậy, giáo viên và cán bộ quản lý có thể khai thác nguồn trí tuệ khổng lồ của cả nhân loại, của toàn cầu lẫn rèn luyện tác phong theo nhóm, theo tập thể. Tư duy về giáo dục thay đổi nhiều khi giáo viên, cán bộ quản lý tiếp cận thường xuyên với mạng Internet, giáo viên và học sinh vùng sâu có điều kiện học tập bình đẳng chẳng thua kém gì giáo viên và học sinh ở thành phố.

 

III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN:

Nội dung sáng kiến này đã được đi tiếp thu từ các lớp tập huấn của Bộ GD&ĐT tổ chức do Sở GD&ĐT Trà Vinh cử đi để tập huấn lại cho giáo viên trong tỉnh. Bản thân đã thực hiện và bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên trong tỉnh với bộ môn Vật lý THCS hè 2008.

Thấy được tầm quan trọng cũng như những khó khăn của giáo viên khi ứng dụng CNTT vào giảng dạy, từ năm học 2008 - 2009, bản thân tôi đã có kế hoạch tổ chức các hoạt động để hỗ trợ giáo viên trong việc ứng dụng CNTT vào đổi mới phương pháp dạy học, từ việc nâng cao nhận thức của CBGV đến tập huấn sử dụng phần mềm, thao giảng theo chuyên đề, đề nghị các cấp lãnh đạo đầu tư trang thiết bị hiện đại…Chính vì vậy, đến thời điểm này, phần lớn CBGV của trường đã có thể ứng dụng CNTT như một công cụ trong đổi mới dạy học.

Hiện nay Trường THCS Tập Sơn đã phát động phong trào ứng dụng CNTT trong nhà trường: Trường đã kết nối Internet trước khi có chương trình của Bộ GD&ĐT kết hợp tổng đài Viettel hỗ trợ miễn phí cho các trường phổ thông. 100% CBGV biết sử dụng vi tính,  trong đó 90% có chứng chỉ A – B tin học. Mỗi giáo viên đều biết soạn giáo án điện tử, thao giảng bằng giáo án điện tử; Có 2 giáo viên dự thi giáo án điện tử cấp Huyện và cấp Tỉnh; Thực hiện báo cáo nhanh đến Phòng GD& ĐT qua e-mail; Lập các chương trình quản lý như quản lý giáo viên, quản lý học sinh, lập các quyết định - văn bản, sắp xếp thời khóa biểu, thống kê các số liệu, quản lý hồ sơ phổ cập giáo dục… Tất cả hiệu quả nhanh chóng, chính xác.

< Bài học kinh nghiệm:

Theo bản thân tôi Muốn đổi mới dạy học và ứng dụng CNTT có hiệu quả trong nhà trường, trước hết chính Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng cần phải hiểu rõ tầm quan trọng của đổi mới dạy học và vai trò của ứng dụng CNTT vào dạy học, phải giúp giáo viên hiểu được thế nào là đổi mới dạy học và muốn đổi mới dạy học giáo viên phải làm gì. Đồng thời Hiệu trưởng, phó Hiệu trưởng cũng phải tạo điều kiện cơ sở vật chất để việc thực hiện đổi mới dạy học của GV dễ thực hiện…

Mục đích của việc ứng dụng CNTT vào nhà trường nói chung và trường THCS nói riêng là sử dụng CNTT như một công cụ lao động trí tuệ, giúp lãnh đạo các nhà trường nâng cao chất lượng quản lí nhà trường; giúp các thầy giáo, cô giáo nâng cao chất lượng dạy học; trang bị cho HS kiến thức về CNTT, HS sử dụng máy tính như một công cụ học tập nhằm nâng cao chất lượng học tập; góp phần rèn luyện HS một số phẩm chất cần thiết của người lao động trong thời kì hiện đại hoá.

Lãnh đạo các trường sử dụng CNTT để quản lí hồ sơ, thời khoá biểu, điểm kiểm tra của GV và HS, soạn thảo và quản lí các văn bản chỉ đạo và báo cáo của nhà trường;

Những giải pháp cơ bản để đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong nhà trường, theo tôi đó là: Nâng cao nhận thức về tin học và ứng dụng CNTT trong nhà trường nhằm giúp các cấp lãnh đạo, các lực lượng xã hội nhận thức một cách đầy đủ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT và nhà trường; Đánh giá, xây dựng và nhân rộng các mô hình tốt, tổ chức các diễn đàn, hội thảo để chia sẻ và phổ biến kinh nghiệm ứng dụng CNTT trong việc quản lí nhà trường, hỗ trợ dạy và học; Tăng cường công tác tập huấn, bồi dưỡng về CNTT cho đội ngũ CB quản lý GD các cấp; Tuyển chọn, thẩm định tài liệu dạy học tin học theo chương trình đã được Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành; Khuyến khích các địa phương dạy tin học như môn học tự chọn, những nơi có điều kiện có thể tăng thêm thời lượng và nội dung dạy tin học; Khuyến khích GV sử dụng giáo án điện tử trong nhà trường, sử dụng tin học là công cụ tích cực đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn mới.

- Nhận thức và hiểu biết của cán bộ lãnh đạo, quản lý. Kinh nghiệm của các địa phương và cơ sở cho thấy ở đâu cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức được vai trò của CNTT, hiểu biết về CNTT, quan tâm sử dụng thực sự CNTT phục vụ cho công tác giáo dục ( giảng dạy, học tập, quản lý…) thì ở đó CNTT được tác dụng. Không ai đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý phải trở thành nhà CNTT nhưng cần có hiểu biết khái quát về các vấn đề cơ bản, về phương pháp tổ chức và khai thác các hệ thống thông tin, về tính năng của một số công nghệ chủ chốt mà đòi hỏi họ có những hiểu biết thấu đáo và sâu sắc hơn về chính công việc lãnh đạo và quản lý của mình. Từ đó học biết đòi hỏi những gì mà CNTT có thể đáp ứng, chủ động đề xuất và thúc đẩy thực hiện các kế hoạch ứng dụng tin học.

C. KẾT LUẬN

Muốn đưa CNTT vào nhà trường, vào giáo dục và quản lý giáo dục một cách bài bản, chúng ta phải tính tới các điều kiện sau:

- Đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định nhất về chất lượng dạy CNTT và ứng dụng CNTT, trong khi máy tính chỉ là công cụ cần thiết. Có tiền mua máy tính được ngay nhưng không thể có ngay được đội ngũ giáo viên biết ứng dụng CNTT. Công tác đào tạo giáo viên bao gồm: đào tạo giáo viên dạy CNTT và giáo viên sử dụng CNTT để dạy môn học của mình.

- CNTT dù ở đâu cũng phải giải quyết 4 vấn đề cơ bản: xây dựng hạ tầng kỹ thuật, tổ chức dữ liệu, phát triển ứng dụng và phát triển nguồn nhân lực. 4 yếu tố này tạo ra cấp độ phát triển CNTT.

- Để ứng dụng CNTT có nhiều cách tiếp cận, nhưng thực tiễn cho thấy, cách tiếp cận thích hợp là đi từ thấp lên cao, từ tổng thể đến chi tiết, từ môi trường thông tin đến môi trường làm việc chuyên nghiệp. Tùy theo điều kiện riêng của mỗi địa phương, quá trình này thực hiện từ một vài năm. Thực tiễn cho thấy, bắt đầu từ môi trường thông tin thân thiện để từng bước làm quen là cách tiếp cận mềm dẽo nhất.

C Đề nghị:  

 Trong điều kiện hiện nay, vấn đề bồi dưỡng các kiến thức và kĩ năng về CNTT cho giáo viên là hết sức cấp thiết. Việc tổ chức bồi dưỡng cụ thể theo các bước: Xoá mù tin học cho giáo viên, tập huấn ứng dụng CNTT dạy học các bài học cụ thể ở THCS, triển khai mở rộng dần số trường THCS có ứng dụng CNTT trong dạy học.

Đưa CNTT vào nhà trường nói chung và trường THCS nói riêng là môt công việc cần thiết, cấp bách. Nó cần tới tầm nhìn xa của cán bộ quản lí các cấp, cần tới một định hướng triển khai đúng đắn và cần sự ủng hộ của tập thể giáo viên, phụ huynh HS cũng như toàn xã hội.

Việc xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT trong GD một cách đúng mức phù hợp với trình độ nhận thức và nhu cầu sử dụng của từng đơn vị, trong từng giai đoạn để đạt được mục tiêu đổi mới GD là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, yếu tố then chốt vẫn là việc bồi dưỡng cho tất cả GV THCS sử dụng CNTT trong giảng dạy.

                                                                                         Người thực hiện

 

 

 

Nguyễn Bảo Tuân


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Viết Xuân @ 11:12 19/11/2013
Số lượt xem: 240
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến